EN" "http://www.w3.org/TR/xhtml1/DTD/xhtml1-strict.dtd"> Sến cát

Sến cát

Sến cát, Sến xanh, Viết - Mimusops elengi L., thuộc họ Hồng xiêm - Sapotaceae.

Mô tả: Cây gỗ thường xanh, cao 15-20m. Vỏ ngoài màu xám nâu, thịt vỏ màu đỏ hồng, có nhựa trắng. Lá mọc so le, thuôn, nhẵn, dài 10-13cm, rộng 5-6,5cm, đỉnh có mũi tù, gốc hơi tròn, lúc non có lông. Hoa có nách lá, nhỏ, màu trắng thơm. Quả mọng nạc, xoan, nhẵn, màu vàng khi chín, dài 2-2,5cm, với 1 tới nhiều ô, tuỳ theo số hạt phát triển. Hạt đơn độc trong mỗi ô, thuôn, bị ép, có vỏ dày, khô.

Hoa vào mùa hè - thu, quả tháng 12. 

Bộ phận dùng: Vỏ, lá, gỗ, hoa, quả và hạt - Cortex, Folium, Lignum, Flos, Fructus et Semen Mimusops.

Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Lào, Thái Lan, Nam Việt Nam. Cây mọc ở vùng Tây Nguyên trong rừng thường xanh hay nửa rụng lá; cũng thường được trồng làm cây cảnh.

Thành phần hoá học: Vỏ thân có chất nhầy, gỗ chứa tanin. Hạt chứa saponin, vỏ hạt chứa dầu; nhân hạt chứa 18% một loại dầu nhỏ màu trắng - vàng vàng, có thể dùng ăn và thắp đèn.

Tính vị, tác dụng: Vỏ cây, thịt quả đều có vị đắng và chát; có tác dụng làm săn da; gỗ bổ, tăng lực.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Malaixia, vỏ cây dùng nấu với vỏ me làm loại thuốc rửa trị bệnh ngoài da. Có khi chế thành dạng thuốc đắp mụn ở mặt và dùng đắp bụng dưới trị bạch đới.

Ở Ấn Độ, vỏ cây dùng làm thuốc trị sốt; lá làm thuốc trị rắn cắn. Thịt quả chín dùng điều trị lỵ mạn tính, còn quả xanh có thể dùng nhai để làm chắc chân răng hoặc nấu thành dạng thuốc nước để súc miệng. Hạt nghiền ra làm thuốc đắp vào hậu môn trẻ em trong trường hợp bị táo bón.

Ở Thái Lan, hoa khô được dùng trị đau thắt ngực và đau cơ, vỏ thân sắc nước súc miệng trị viêm lợi; còn gỗ cũng làm thuốc trợ tim, gan và bổ phổi; dùng trợ lực cho phụ nữ sinh đẻ.



http://caythuoc.net/cay-thuoc/9999/2660
http://chothuoc24h.com